Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống pháp luật quốc gia, có đặc trưng là tính hiện đại, năng động, đa ngành và chuyên sâu về kỹ thuật, chịu tác động mạnh mẽ của tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo và quá trình hội nhập quốc tế. Do đó, việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật KH&CN cần được tiến hành một cách tổng thể, bài bản, gắn với yêu cầu phát triển của thời kỳ mới, bảo đảm sự hài hòa giữa tính ổn định của thể chế và tính linh hoạt trong điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ đổi mới công nghệ và hội nhập toàn cầu.
Trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất định hướng hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật KH&CN theo các hướng lớn sau:
(i) Giữ ổn định cấu trúc chuyên ngành nhưng thiết kế theo hướng “mở” và “động”
Trong giai đoạn tới, hệ thống pháp luật KH&CN về cơ bản tiếp tục duy trì cấu trúc chuyên ngành hiện nay, bao gồm các lĩnh vực như nghiên cứu KH&CN, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng, sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử, công nghiệp công nghệ số, chuyển đổi số, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, v.v. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của KH&CN và quá trình chuyển đổi số quốc gia, cấu trúc pháp luật cần được thiết kế theo hướng mở và linh hoạt, cho phép mở rộng hoặc bổ sung các lĩnh vực mới khi thực tiễn phát sinh mà không phải chờ điều chỉnh toàn bộ hệ thống luật hiện hành.
Ví dụ điển hình là việc đưa Luật Trí tuệ nhân tạo vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc chủ động nắm bắt và định hình xu hướng phát triển công nghệ mới. Đây không chỉ là bước đi phù hợp với xu thế quốc tế mà còn khẳng định vai trò kiến tạo và dẫn dắt của Nhà nước trong xây dựng hành lang pháp lý thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đảm bảo an toàn, bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong kỷ nguyên số.
(ii) Tổ chức hệ thống pháp luật theo mô hình phân lớp “khung – chi tiết – thực thi”
Để vừa bảo đảm tính ổn định lâu dài của pháp luật vừa thích ứng với sự thay đổi nhanh của công nghệ, hệ thống pháp luật KH&CN cần được xây dựng theo hướng luật khung, quy định các nguyên tắc, chính sách và định hướng lớn cũng như cơ chế quản lý chung. Các nội dung mang tính kỹ thuật, biến động nhanh như tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thử nghiệm, sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát) hoặc quy định cụ thể cho từng loại công nghệ sẽ được cụ thể hóa ở văn bản dưới luật (nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia).
Theo đó, cấu trúc hệ thống pháp luật KH&CN được đề xuất tổ chức theo mô hình phân lớp linh hoạt “khung – chi tiết – thực thi” như sau:
Lớp khung: Bao gồm các đạo luật cơ bản xác định nguyên tắc, chính sách, phạm vi điều chỉnh, chức năng và thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, đảm bảo tính định hướng và ổn định lâu dài của thể chế.
Lớp chi tiết: Là hệ thống các nghị định, quyết định và văn bản quy phạm pháp luật chuyên sâu điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử, đổi mới sáng tạo... nhằm hướng dẫn và triển khai thống nhất các quy định của luật.
Lớp thực thi: Bao gồm thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn nghiệp vụ và các quy định cụ thể phục vụ trực tiếp cho công tác triển khai, có khả năng cập nhật nhanh để phản ánh yêu cầu thực tiễn và tiến bộ công nghệ.
Cách tiếp cận này cho phép hệ thống pháp luật KH&CN duy trì được tính ổn định của luật, đồng thời đảm bảo khả năng thích ứng linh hoạt trước sự biến động nhanh của môi trường khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế.
(iii) Chuyển từ mô hình pháp luật “phản ứng” sang pháp luật “kiến tạo”
Theo định hướng của Nghị quyết 66-NQ/TW, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật KH&CN nói riêng phải chuyển mạnh từ mô hình pháp luật phản ứng sang mô hình pháp luật kiến tạo – nghĩa là pháp luật không chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội đã phát sinh, mà còn phải đón đầu xu hướng, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo dư địa cho phát triển.
Pháp luật KH&CN trong giai đoạn tới cần đi trước một bước, dự báo và định hình chính sách đối với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, năng lượng tái tạo, công nghệ xanh, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa. Đồng thời, phải bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa pháp luật KH&CN với pháp luật về đầu tư, tài chính, giáo dục, công nghiệp và môi trường, hình thành một thể chế thống nhất, hiện đại, minh bạch và khả thi.
(iv) Bảo đảm các nguyên tắc nền tảng trong hoàn thiện pháp luật KH&CN
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật KH&CN sẽ được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc:
- Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, hợp hiến – hợp pháp – hợp lý, khắc phục triệt để chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật.
- Tinh gọn, rõ thẩm quyền, xác định rành mạch trách nhiệm giữa trung ương và địa phương, giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
- Tăng tính khả thi, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
- Có tính thích ứng và dự báo cao, với cấu trúc mở, linh hoạt, sẵn sàng cập nhật xu hướng công nghệ và chuẩn mực quốc tế.
- Lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm pháp luật dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ thực hiện, tạo điều kiện khuyến khích sáng tạo và khởi nghiệp.
- Bảo đảm tương thích với điều ước quốc tế, hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và toàn cầu, thúc đẩy hợp tác KH&CN quốc tế.
- Đề cao trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch, tăng cường cơ chế giám sát, phản hồi và đánh giá tác động chính sách để bảo đảm pháp luật thực sự đi vào cuộc sống.
Tóm lại, việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế, chồng chéo hiện nay mà còn hướng đến xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại, thông minh và có khả năng kiến tạo phát triển, trong đó pháp luật trở thành công cụ then chốt để dẫn dắt đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế tri thức Việt Nam.