Luật giao dịch năm 2005 đặt nền móng pháp lý cho các giao dịch trên môi trường mạng, với các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc áp dụng các phương thức điện tử trong mọi giao dịch của đời sống.
Dự thảo luật đưa ra các nguyên tắc tôn trọng tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên giao dịch. Việc sử dụng hay không sử dụng phương tiện điện tử khi tham gia giao dịch là quyền tự do lựa chọn của ác chủ thểm dân sự khi tham gia giao dịch.
Đối với các giao dịch điện tử với cơ quan nhà nước thì cần đưa ra nguyên tắc cụ thể về cách thức giao dịch được chấp nhận. Ví dụ như hình thức hồ sơ được định dang dưới dạng điện tử như thế nào là hợp lệ, đảm bảo an toàn. Để khi thực hiện thủ tục hành chính các tổ chức, cá nhân có thể xác định được loại công nghệ sử dụng để đảm bảo an toàn cho những dữ liệu của mình được gửi trên môi trường mạng.
Dự thảo đã cho chủ thể thực hiện giao dịch được lựa chọn các phương tiện điện tử khác nhau khi tham gia giao dịch là một lợi thế cho các tổ chức, cá nhân và tạo điều kiện phát triển cho giao dịch điện tử cũng như việc công nhận các công nghệ thay đổi liên tục nhưng vẫn đảm bảo giá trị của các thông điệp dữ liệu trong giao dịch điện tử
Một nội dung mà chúng tôi rất quan tâm là việc chuyển đổi giữa văn bản giấy và văn bản điện tử trong dự thảo luật. Dự thảo ghi nhận về giá trị pháp lý của việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và văn bản điện tử tạo căn cứ cho việc thực hiện các giao dịch trên thực tế. Tuy nhiên, hiện nay công nghệ thay đổi nhanh và thường xuyên nên việc xác định được phương thức chuẩn, có tính an toàn cao và có giá trị pháp lý là một vấn đề phức tạp. Bởi đây là căn cứ để chủ thể tham gia giao dịch xác định cách thức xử lý rủi ro. Mặt khác, có nên đặt vấn đề cho các bên tự do lựa chọn phương thức giao dịch điện tử mà hai bên tự do thỏa thuận và chấp nhận mặc dù phương thức đó có mức độ an toàn, bảo mật không cao. Nhưng nó lại đáp ứng được tiêu chí về chi phí giao dịch thấp, dễ dàng áp dụng cho mọi người. Trên cơ sở niềm tin của chủ thể thực hiện giao dịch thì các giao dịch này vẫn được tiền hành thuận lợi.
Hiện dự thảo đang xây dựng 05 yêu cầu về việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu (1) đơn vị chuyển đổi: cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hành bản gốc, cơ quan, tổ chức quản lý sổ gốc văn bản giấy; cơ quan tổ chức cá nhân phát hành bản gốc; cơ quan, tổ chức quản lý sổ gốc văn bản giấy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính; cơ quan, tổ chức có giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu (2) nội dung nguyên vẹn như bản gốc văn bản giấy (3) tính khả dung: nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết (4) thông báo chuyển đổi: thông điệp dữ liệu có thông tin khẳng định việc chuyển đổi, thông tin tổ chức, cá nhận thực hiện việc chuyển đổi; (5) chữ ký số của tổ chức, cá nhân chuyển đổi nếu văn bản giấy có chữ ký. Như vậy, quy định này có thể dẫn đến cách hiểu rằng một thông điệp dữ liệu chuyển đổi từ văn bản giấy phải đáp ứng tất cả các điều kiện này mới được coi là có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng việc thiết kế điều luật này như vậy là đưa ra các yêu cầu tương đối cao và không thuận tiện trong một số giao dịch của các bên, ví dụ như:
Thông điệp dữ liệu kèm bản chính để đối chiếu: trong trường hợp tổ chức, cá nhân gửi thông điệp dữ liệu và trong quá trình làm thủ tục có mang tính chất đối chiếu, vậy thông điệp dữ liệu có giá trị trong việc thực hiện thủ tục hành chính hay không?
Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định về giá trị pháp lý của bản sao. Theo điều 3, bản sao có giá trị pháp lý khi bản sao được cấp từ sổ gốc; hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính. Tuy nhiên việc tiếp nhận bản sao của cơ quan nhà nước lại được qui định đơn giản và thuận tiện hơn nhiều. ĐIều 6 nghị định 23/2015/NĐ-CP không yêu cầu bản sao phải có giá trị pháp lý, có thể nộp bản sao từ số gốc hoặc bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao kèm bản chính để đối chiếu. Quy định này tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, cá nhân khi làm thủ tục hành chính vì không nhất thiết phải làm các thủ tục chứng thực gây tốn thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính.
Tương tự với thông điệp dữ liệu từ bản giấy, dự thảo luật quy định mở, cho phép các bên được cung cấp thông điệp dữ liệu kèm bản chính để đối chiếu khi thực hiện thủ tục hành chính . Với các thủ tục hành chính đơn giản và mức độ quan trọng thấp, cơ quan nhà nước có thể lựa chọn hình thức này để tăng tính thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp.