Chính sách, pháp luật

GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT HIỆN NAY

06/12/2021 15:11 CH

 1. Chuyển đổi số là gì và sự cần thiếtphải chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay?

- Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp, đó là cơ giới hóa, điện khí hóa và tự động hóa. Và nay là Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng về số hóa.
- Ba cuộc cách mạng trước là giải phóng sức mạnh cơ bắp, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là giải phóng sức mạnh trí tuệ, tinh thần.
- Công nghệ số trong cuộc CM 4.0 phát triển rất nhanh, theo hàm mũ; thâm nhập vào mọi ngõ ngách đời sống KTXH, làm thay đổi căn bản xã hội.
- Hoạt động của chính quyền, của kinh tế và của xã hội được dịch chuyển lên môi trường số. Đây là sự dịch chuyển lịch sử của xã hội loài người, và chúng ta được biết đó là “chuyển đổi số”.
- Có thể định nghĩa CĐS là quá trình thay đổi tổng thểtoàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất sang môi trường số dựa trên các công nghệ số.
- Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
- Nội dung Chương trình CĐS QG xác định rõ 3 trụ cột chuyển đổi số đó là CPS, KTS, XHS.Trong đó, xác định tầm nhìn đến năm 2030: Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.
- Các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp cũng được xác định rõ trong Chương trình. Đặc biệt, Chương trình cũng xác định rõ 06 quan điểm, thực chất là kim chỉ nam cho quá trình CĐSQG. Nếu vận dụng 06 quan điểm này, chúng ta sẽ thấy được vai trò của PBGDPL trong CĐS Việt Nam, đồng thời cũng thấy được giải pháp để CĐS trong chính công tác PBGDPL. Cụ thể:
(1) Nhận thức đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số
Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có.
Để thực hiện được CĐS theo quan điểm này, phổ biến và giáo dục pháp luật là đặc biệt quan trọng. Chỉ khi hiểu rõ về pháp luật, các các đường hướng phát triển lớn của Đảng và Nhà nước thì chúng ta mới có thể thay đổi được nhận thức đúng đắn, kịp thời.
(2) Người dân là trung tâm của chuyển đổi số
Thiết bị di động thông minh là phương tiện chính của người dân trong thế giới số. Hình thành văn hóa số gắn với bảo vệ văn hóa, giá trị đạo đức căn bản của con người và chủ quyền số quốc gia.
Để thực hiện quan điểm thứ hai này, phổ biến và giáo dục pháp luật cũng là tiền đề, vì chỉ khi người dân hiểu rõ và tuân thủ pháp luật cho dù hoạt động trong môi trường thực và môi trường ảo, thì họ mới được bảo về quyền lợi chính đáng, bảo vệ được giá trị văn hoá, đạo đức.
(3) Thể chế và công nghệ là động lực của chuyển đổi số
Thể chế cần phải đi trước một bước khi có thể. Chính phủ kiến tạo thể chế, chính sách nhằm sẵn sàng chấp nhận và thử nghiệm cái mới một cách có kiểm soát; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới.
Quan điểm này thì gắn liền trực tiếp với công tác phổ biến và giáo dục pháp luật.Vì muốn thể chế đi vào cuộc sống, đặc biệt là trong công cuộc CĐS thể chế phải rất mềm dẻo, linh hoạt, và biến đổi nhanh, thì công tác phổ biến và giáo dục pháp luật phải rất hiệu quả, để người dân hiểu, tuân thủ đúng PL, nếu không dễ gây tổn hại nghiêm trọng cho các thành phần KTXH.
(4) Phát triển nền tảng số là giải pháp đột phá để thúc đẩy chuyển đổi số nhanh hơn, giảm chi phí, tăng hiệu quả
Quan điểm này gợi ý cho ta giải pháp để thực hiện CĐS trong công tác phổ biến và giáo dục pháp luật.
(5) Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là then chốt để chuyển đổi số thành công và bền vững, đồng thời là phần xuyên suốt, không thể tách rời của chuyển đổi số.
Để thực hiện CĐS theo quan điểm này, thì công tác phổ biến và giáo dục pháp luật cũng đóng vai trò then chốt. Vì một trong những yếu tố có thể coi là cơ bản, cốt yếu nhất để bảo đảm ATANM chính là việc tuân thủ luật pháp của các đối tượng phát triển, ứng dụng Công nghệ số (về quy trình ATANM, về sở hữu trí tuệ, về bảo vệ dữ liệu cá nhân,…)
(6) Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hành động đồng bộ ở các cấp và sự tham gia của toàn dân là yếu tố bảo đảm sự thành công của CĐS.
Quan điểm này chỉ có thể được thực hiện khi toàn xã hội, các ngành, các cấp được phổ biến và giáo dục pháp luật để hiểu rõ pháp luật, cơ chế, chính sách để cùng nhau đồng lòng, phối hợp, triển khai CĐS đúng pháp luật, hiệu quả.
- Qua phân tích trên, chúng ta thấy, trong 06 quan điểm, kim chỉ nam về CĐS QG, thì công tác phổ biến và giáo dục pháp luật hỗ trợ thúc đẩy 05 quan điểm; 01 quan điểm gợi ý giải pháp CĐS trong công tác PBGDPL. Đây là mối quan hệ hai chiều, tương hỗ.
2. Giải pháp CĐS trong công tác phổ biến và giáo dục pháp luật
- Như đã định nghĩa về CĐS, CĐS là quá trình thay đổi tổng thểtoàn diện dựa trên các công nghệ số.
- Với cách tiếp cận này, thì CĐS có thể được thực hiện trong mọi hoạt động của công tác PBGDPL.
- Với mỗi bài toán khó, mỗi việc cần giải quyết hãy nghĩ ngay đến ứng dụng công nghệ số. Hãy ứng dụng công nghệ số để chuyển đổi mô hình hoạt động, tạo những sản phẩm mới; hoặc ít nhất cũng có cách làm mới hiệu quả hơn.
- Về mô hình tổ chức: Hãy ứng dụng công nghệ số để chuyển đổi mô hình tổ chức, mối quan hệ, hợp tác giữa các cơ quan liên quan trong phổ biến và giáo dục pháp luật (trong Bộ TP, giữa Bộ TP và các Bộ khác). Hãy chuyển dịch các hoạt động lên môi trường mạng.
- Về hoạt động phổ biến và giáo dục pháp luật:
+ Phạm vi đối tượng PBGDPL: CĐS để mở rộng số đối tượng, phạm vi địa lý không giới hạn khi thực hiện qua môi trường mạng, môi trường ảo.
+ Nội dung PBGDPL: CĐS để tuỳ biến nội dung cho các đối tượng khác nhau, tại các thời điểm khác trong cuộc sống (đúng đối tượng, đúng thời điểm, xác định người dân là trung tâm). Muốn vậy phải ứng dụng các công nghệ số (AI, Bigdata,…) để biết người dân cần gì về pháp luật.
+ Hình thức thể hiện nội dung: CĐS để có những hình thức thể hiện nội dung PBGDPL hấp dẫn, dễ hiểu phù hợp các đối tượng (video, clip, infographic,…).
+ Chiều tương tác với với người dân: CĐS để tạo tương tác hai chiều; người dân tham gia ngay từ quá trình xây dựng pháp luật; người dân phản ánh kiến nghị về thực thi pháp luật, từ đó tạo hiệu quả công tác PBGDPL (ví dụ ứng dụng chụp ảnh hiện trường trong triển khai ĐTTM).
+ Hình thức, thời gian tương tác: Ứng dụng CĐS để có tương tác hiệu quả, thuận tiện nhất như tương tác qua cổng, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, thông qua thiết bị di động, đặc biệt là smartphone; tương tác 24/7, mọi lúc, mọi nơi.
+ Chủ thể tương tác: Ứng dụng CĐS để có thể tương tác tự động (ví dụ qua chatbot, AI,…).
+ Đánh giá công tác PBGDPL (công nghệ AI, đánh giá, phân tích trên không gian mạng): Đánh giá sự tuân thủ, hiểu biết pháp luật; dư luận xã hội liên quan đến ban hành, thực thi pháp luật =>tác động đến công tác PBGDPL phù hợp.
Một số ý tham khảo về các nền tảng (là giải pháp đột phá CĐS):
(1) Phát triểnnền tảng để người dân, doanh nghiệp, CQNNtra cứu pháp luật dưới dạng hỏi - đáp, tình huống. Hiện nay, việc PBGDPL do các bộ, ngành, địa phương tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau. Có nhiều cổng/trang thông tin điện tử về văn bản pháp luật có hoặc không thu phí. Hệ thống văn bản của Việt Nam khá phức tạp, một nội dung người dân, doanh nghiệp, CQNN cần, có khi được quy định ở nhiều văn bản, thuộc nhiều cổng/trang thông tin điện tử khác nhau. Vì vậy, cần phát triển ứng dụng để khi người dân, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước có câu hỏi hay vấn đề gì cần biết về quy định pháp luật thì chỉ cần hỏi một câu trong ứng dụng là sẽ có câu trả lời cụ thể chứ không chỉ là tra cứu văn bản. Có thể tích hợp các nền tảng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, giọng nói nhân tạo để hỗ trợ công tác tìm kiếm, trả lời,
(2) Phát triển nền tảng tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giải đáp pháp luật từ xa. Giống như nền tảng tư vấn khám chữa bệnh từ xa, chúng ta có thể phát triển một nền tảng tương tự để tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giải đáp pháp luật từ xa phục vụ cho các đối tượng, kể cả người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có thể tích hợp nền tảng trí tuệ nhân tạo như trợ lý ảo AI để hỗ trợ công tác tư vấn, trợ giúp, giải đáp.
(3) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ làm công tác PBGDPL => biết ứng dụng công nghệ số trong công việc. Việc đào tạo, bồi dưỡng có thể sử dụng các Nền tảng quản lý dạy và học trực tuyến./.