Nghị định 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ sau 10 năm thực thi đã bắt đầu bộc lộ những điểm hạn chế, thiếu đồng bộ so với các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hành hành, như Luật tiếp cận thông tin, Luật ngân sách nhà nước, Luật Khoa học và công nghệ....
Từ thực tiễn áp dụng tại bộ, ngành, địa phương, một số vướng mắc khi công khai thông tin mang tính nhạy cảm hoặc không phải công khai theo Luật tiếp cận thông tin, Luật an toàn thông tin.
Để bắt kịp với xu thế chung về chuyển đổi số tới các đơn vị hành chính nhỏ nhất thì việc xây dựng một trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã, thị trấn là cần thiết.
Mặc dù hiện nay, các quy định về cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã và đang được hoàn thiện, tuy nhiên vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể về quản lý toàn trình, toàn diện việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến đáp ứng xu thế phát triển của dịch vụ công bằng nhiều hình thức khác nhau trên môi trường mạng.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử), nhưng chưa giải quyết được triệt để những vấn đề mà trong thực tiễn áp dụng Nghị định 43/2011/NĐ-CP đang điều chỉnh. Theo đó, một số những chính sách mới cần được nghiên cứu, đánh giá cụ thể để đưa vào văn bản thay thế nghị định này. Cụ thể:
Đối với việc xử lý văn bản, hồ sơ để quản lý được toàn trình, văn bản quy phạm pháp luật phải quy định được toàn bộ các bước trong quy trình dịch vụ (tiêu biểu gồm các bước: nộp hồ sơ; tiếp nhận hồ sơ; giải quyết hồ sơ; trả kết quả tới người dân, doanh nghiệp). Để quản lý được toàn diện, văn bản quy phạm pháp luật phải quy định được các yếu tố, điều kiện để thực thi các bước trong quy trình dịch vụ, bao gồm cả các quy định về mặt kỹ thuật (Ví dụ như: các yêu cầu về kỹ thuật khi thiết kế, triển khai, cung cấp, giám sát tự động,…).
Để đáp ứng xu thế cung cấp dịch vụ số ngày càng đa dạng về thể loại và thông qua nhiều kênh số khác nhau, văn bản quy phạm pháp luật phải quy định thêm các loại hình dịch vụ số mà cơ quan nhà nước cung cấp (ngoài các dịch vụ hành chính công), quy định thêm các kênh số để cung cấp dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện, cá thể hoá theo nhu cầu, mọi lúc, mọi nơi, qua nhiều thiết bị (ngoài việc cung cấp qua Cổng dịch vụ công).
+ Về kênh cung cấp dịch vụ: Nghị định số 43/2011/NĐ-CP quy định về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, chưa quy định cho việc cung cấp DVCTT qua các kênh số khác (Ứng dụng di động, mạng xã hội…). Mặc dù khi thực hiện Nghị định số 61/2018/NĐ-CP, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xây dựng Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh và tích hợp với Cổng thông tin điện tử của bộ, tỉnh để cung cấp DVCTT cho người dân, doanh nghiệp, nhưng Cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh thiếu tính thân thiện, đơn giản cho tất cả các đối tượng người dân (bao gồm cả những người có kỹ năng về công nghệ thông tin thấp, người khuyết tật…);
+ Về phạm vi nội dung cung cấp dịch vụ công trực tuyến: Theo Khoản 4, Điều 3 của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP, DVCTT là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng. Tuy nhiên, các quy định trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP chỉ tập trung về việc cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng, mà chưa có bất cứ nội dung quy định nào về dịch vụ khác, ví dụ như dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, dịch vụ sáng tạo,...
+ Về việc chuẩn hoá dịch vụ công: Theo Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP thì mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, hiện nay chưa chuẩn hóa được nội dung, danh mục dịch vụ công của trên phạm cả nước, nên việc triển khai DVCTT thiếu hiệu quả; khó nhân rộng, sử dụng lại các nền tảng cung cấp DVCTT trong các cơ quan nhà nước; việc thống kê số lượng DVCTT trên quy mô toàn quốc cũng gặp khó khăn, thiếu thống nhất.
+ Về xác định mức độ cung cấp DVCTT: Nội dung quy định về tiêu chí, cách thức xác định mức độ dịch vụ công trực tuyến trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP vẫn còn chưa rõ ràng, nên nhiều bộ, ngành, địa phương hiểu không thống nhất về cách xác định mức độ cung cấp DVCTT;
+ Về định danh, xác thực điện tử: Quy định về danh tính số, định danh, xác thực điện tử trong các giao dịch trên môi trường mạng hiện vẫn đang được nghiên cứu, xây dựng để thực hiện thống nhất trên toàn quốc, không chỉ áp dụng trong các giao dịch với cơ quan nhà nước. Hiện một số bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu người dân đăng ký và xác thực bằng tài khoản email để sử dụng, trong khi nhiều người dân không có email (tình trạng chung của đa số người dân ở nông thôn). Khi nộp hồ sơ xong, sau một thời gian khá lâu, người dân mới có thể nhận được thông báo của cơ quan nhà nước về việc tiếp nhận hồ sơ và thường thông báo qua email.
+ Về liên thông quy trình thủ tục, dữ liệu: Chưa có quy định về liên thông quy trình, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình xử lý hồ sơ của người dân, doanh nghiệp; điều này cản trở việc tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến để giảm thiểu giấy tờ người dân phải cung cấp, hạn chế tình trạng người dân phải cung cấp lặp lại thông tin cho các cơ quan nhà nước. Nhiều khi còn phát sinh một số quy trình xử lý hồ sơ ngoài các quy định hiện hành, như yêu cầu nộp đồng thời trực tuyến và trực tiếp cùng 01 hồ sơ trước khi tiếp nhận, xử lý (ví dụ: Cấp lý lịch tư pháp); trả hồ sơ bằng dịch vụ bưu chính ngoài công ích, cán bộ tự trả kết quả hồ sơ tại nhà; thanh toán phí, lệ phí thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích…;
+ Về sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước cung cấp dịch vụ công: Chưa có cơ chế, quy định rõ ràng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình cung cấp DVCTT (hiện nay mới chỉ được tham gia một số bước trong quy trình, như nhận hồ sơ, trả kết quả, thanh toán trực tuyến). Chính vì vậy, chưa thu hút được nguồn lực xã hội để cung cấp dịch vụ đa dạng, chất lượng cao tới người dân và doanh nghiệp.
+ Về cơ chế khuyến khích sử dụng DVCTT: Chưa có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân sử dụng DVCTT (Ví dụ như: chính sách cung cấp thiết bị công nghệ thông tin cho người dân; chính sách ưu tiên về thời gian xử lý thủ tục, chi phí thực hiện dịch vụ qua môi trường số;…).