Chính sách pháp luật mới

Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư

04/12/2020 13:45 CH

Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) gồm 11 chương và 101 điều quy định về hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư, hoạt động quản lý nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Luật PPP được xây dựng nhằm tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để bảo đảm các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, ổn định lâu dài trong thời hạn hợp đồng dự án PPP. Quy định này cũng là tuyên bố chung, thể hiện cam kết của Nhà nước về mặt pháp lý đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư khi tham gia cùng Nhà nước đầu tư vào các dự án PPP. Luật PPP có nhiều nội dung mới.

Về lĩnh vực đầu tư:

Luật PPP khu biệt 5 lĩnh vực thiết yếu để đầu tư theo phương thức PPP nhằm tập trung nguồn lực, cụ thể bao gồm: Giao thông; lưới điện, nhà máy điện (trừ nhà máy thủy điện và trường hợp Nhà nước độc quyền theo quy định của Luật Điện lực); thủy lợi, cung cấp nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải; y tế, giáo dục - đào tạo; hạ tầng công nghệ thông tin.

Về quy mô đầu tư:

Nhằm tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, Luật PPP quy định thực hiện đầu tư PPP đối với dự án có tổng mức đầu tư từ 200 tỷ đồng, trừ dự án ở địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn hoặc trong lĩnh vực y tế, giáo dục-đào tạo (từ 100 tỷ đồng).

Khác với quy định trước đây, dự án PPP phân loại theo pháp luật đầu tư công, Luật PPP phân loại dự án gắn với và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, Luật quy định việc phân loại dự án gắn với thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, gồm Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ; bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, cơ quan khác và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư là cấp quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Quy định về Hội đồng thẩm định

Luật PPP quy định 3 cấp Hội đồng thẩm định (nhà nước, liên ngành và cơ sở) dự án PPP tương ứng 3 cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP để đảm bảo tính chặt chẽ, hiệu quả và khả thi trước khi dự án PPP đưa ra thị trường, thu hút đầu tư. Về vốn nhà nước trong dự án PPP, Luật quy định rõ vốn nhà nước trong dự án PPP và phương án quản lý từng hình thức hỗ trợ, tham gia vốn nhà nước. Đặc biệt, trong Luật quy định hạn mức tham gia trong dự án PPP không quá 50% tổng mức đầu tư của dự án.

Luật PPP quy định tích hợp nội dung lựa chọn nhà đầu tư

Quy định này bảo đảm tính thống nhất, chỉnh thể và tính liên tục của quy trình thực hiện một dự án PPP đồng thời,thu hẹp trường hợp chỉ định nhà đầu tư so với quy định hiện hành tại Luật Đấu thầu năm 2013.

Về vốn nhà nước trong dự án PPP

Luật quy định cụ thể mục đích sử dụng, phương thức quản lý vốn nhà nước trong dự án PPP. Trong đó, với phần vốn nhà nước sử dụng để hỗ trợ xây dựng công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và giải phóng mặt bằng, hạn mức tham gia trong dự án PPP không quá 50% tổng mức đầu tư và được quản lý, sử dụng theo 02 phương thức: Tách thành tiểu dự án trong dự án PPP và bố trí vào hạng mục cụ thể theo tỷ lệ và giá trị, tiến độ và điều kiện quy định tại hợp đồng.

Về trách nhiệm của Bộ TTTT

Theo quy định tại Luật trong lĩnh vực thông tin và Truyền thông có lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP là “hạ tầng công nghệ thông tin” (Điểm đ khoản 1 Điều 4).

Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 “Chính phủ sẽ quy định chi tiết về lĩnh vực đầu tư tại khoản 1 và quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu đối với từng lĩnh vực tại khoản 2 Điều này”. Như vậy, đối với lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ sẽ cần nghiên cứu, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nghị định này. Đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn về quy mô tổng mức tối thiểu đối với lĩnh vực công nghệ thông tin theo quy định tại Luật sau khi Nghị định ban hành.

Theo Điều 92 Luật quy định: 

“Điều 92. Nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan trung ương, cơ quan khác

1. Thực hiện quản lý, hướng dẫn về đầu tư theo phương thức PPP trong lĩnh vực, phạm vi quản lý.

2. Thực hiện trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 94 của Luật này đối với dự án PPP thuộc thẩm quyền.

3. Hằng năm tổng hợp, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện dự án PPP thuộc phạm vi quản lý của ngành.

4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”

Luật này có nhiều nội dung thay đổi lớn, Bộ TTTT vừa là cơ quan quản lý dự án đầu tư vừa là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước của đối với dự án PPP, cần nghiên cứu để hướng dẫn về đầu tư theo phương thức PPP đối với các dự án liên quan đến Hạ tầng công nghệ thông tin.

 

Vụ Pháp chế