Chính sách pháp luật mới

THỂ CHẾ, YẾU TỐ NỀN TẢNG TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA

09/10/2020 08:12 SA

“Chuyển đổi số là một cuộc cách mạng về chính sách và thể chế nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Đây lại càng là lợi thế của Việt Nam, khi chúng ta có Đảng lãnh đạo, có thể ra được những quyết sách lớn một cách nhanh và tập trung. Nghị quyết 52 là một thí dụ như vậy.

Năm 2019, Việt Nam tuyên bố chiến lược về chuyển đổi số quốc gia, để tiến tới một nền kinh tế số, xã hội số. Các yếu tố nền tảng sẽ được nhấn mạnh, sẽ được đầu tư trước, sẽ đi trước, sẽ phải có thứ hạng cao trên thế giới, phải nằm trong top 50 vào năm 2025 và top 30 vào năm 2030. Chúng ta nhấn mạnh 5 yếu tố nền tảng là: Thể chế, Hạ tầng, An ninh mạng, Platform và Đào tạo.”

Trong bài phát biểu Bộ trưởng cũng đã nhấn mạnh “Về thể chế thì quan trọng nhất là chính sách thu hút nhân tài toàn cầu, là sự chấp nhận các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới, các mối quan hệ mới trong thế giới ảo, đi đôi với việc bảo vệ các giá trị căn bản của nhân loại, của văn hoá Việt Nam, luôn lấy con người làm trung tâm trong quá trình chuyển đổi số. Cái mới thì chưa biết nên cũng không thể biết cách quản lý, do vậy cơ chế sandbox, tức là cho thí điểm, nhưng giới hạn trong một không gian và thời gian nhất định, là cách tiếp cận cái mới tốt nhất, mà Nghị quyết 52 đã chỉ ra”.Từ những yêu cầu về tính pháp lý trong việc giải quyết những vấn đề mới nhằm khai thác những thành tựu của cuộc trong cuộc cách mạng 4.0 thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức mà một trong số đó chính là hoàn thiện thể chế và pháp luật hiện hành. Như vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời đại công nghiệp 4.0 phải gắn với đặc trưng cơ bản của CMCN 4.0, cũng như gắn với yêu cầu, điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam. Có thể thấy, CMCN 4.0 đã đặt ra một số yêu cầu cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, yêu cầu đầu tiên mà CMCN 4.0 đặt ra đối với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam là việc nắm bắt đầy đủ, chính xác các mối quan hệ xã hội mới phát sinh, cần nhu cầu điều chỉnh của pháp luật. Theo đó, Bộ TTTT chủ động xây dựng và ban hành nhiều VBQPPL liên quan đến 6 lĩnh vực thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ: bưu chính, tần số, viễn thông, công nghệ thông tin, báo chí, xuất bản, an toàn thông tin nắm bắt đầy đủ chính xác các quan hệ mới phát sinh, nhu cầu cần điều chỉnh các quan hệ xã hội , rà soát xác định khuôn khổ pháp lý điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh để đánh giá tính đầy đủ, những khó khăn, vướng mắc, bất cập và từ đó đề xuất sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới theo thẩm quyền điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Thứ hai, CMCN 4.0 với khuynh hướng phát triển như hiện nay đã bắt đầu và sẽ thúc đẩy sự cải cách pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, kể cả từ Hiến pháp đến pháp luật hành chính, hình sự, dân sự, thương mại, lao động... Nhưng sẽ tập trung nhiều vào lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến các thiết chế nhà nước, xã hội; bảo đảm công bằng, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quản trị môi trường ảo, tội phạm công nghệ cao, đại diện, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sở hữu trí tuệ, quản trị doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thương mại điện tử, tài sản ảo, an sinh xã hội, nghề nghiệp... Đối với lĩnh vực thông tin và truyền thông vấn đề hạ tầng thì quan trọng nhất là chuyển đổi hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT và làm chủ các công nghệ nền tảng của chuyển đổi số, như IoT, Big Data, AI. Rất nhiều công nghệ mới đang xuất hiện cho phép Việt Nam chuyển đổi nhanh chóng hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT thế hệ mới. Trên cơ sở nắm bắt kịp thời, đầy đủ các quan hệ xã hội phát sinh, pháp luật Việt Nam phải cải cách để hướng tới hai mục tiêu ở hai tầng nấc khác nhau: mục tiêu cho việc thúc đẩy kinh tế - xã hội nhanh chóng tiếp cận nội dung CMCN 4.0 và mục tiêu cho các hệ quả mà CMCN 4.0 đem lại.
Thứ ba, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh CMCN 4.0 phải thay đổi toàn diện, xuất phát từ các yếu tố cơ bản của pháp luật về không gian, thời gian, chủ thể pháp lý, các hành vi và phương tiện pháp luật, cơ sở và nội dung pháp luật. Theo đó, tác động của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và robot thông minh, không gian pháp luật sẽ bị thay đổi, có thể vượt ra khỏi phạm vi không gian lãnh thổ thông thường và đại lượng thời gian cũng sẽ thay đổi tương tự theo không gian pháp luật. Đặc biệt, CMCN 4.0 sẽ dẫn đến sự xuất hiện những chủ thể mới, gắn với các quyền, nghĩa vụ và theo đó quy mô, cơ cấu các chủ thể pháp lý truyền thống sẽ thay đổi với sự xuất hiện của nhiều chủ thể vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và do vậy pháp luật cần hoàn chỉnh để điều chỉnh vấn đề này. Gắn với chủ thể là sự thay đổi của các hành vi pháp lý và phương tiện pháp luật (một số hành vi pháp lý mới sẽ phát sinh như giao dịch tài sản ảo, hành vi phá hoại máy chủ theo virut, mua và bán lại lỗ hổng bảo mật... để cung cấp cho các cơ quan sử dụng nhằm theo dõi tội phạm, giám sát công ty và chính phủ nước ngoài, hoặc công dân của họ - đây là các hành vi được coi là hoạt động sinh lời cho một số công ty). Để có thể kiểm soát các hành vi này, thì các quan niệm truyền thống về chế tài pháp lý, vi phạm pháp luật, quy trình tố tụng... cũng cần được tiếp cận, định nghĩa lại cho phù hợp. Cuối cùng, CMCN 4.0 cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi nội dung pháp luật. Định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở từng lĩnh vực kinh tế xã hội và trong đó có lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Những vấn đề trước mắt cần giải quyết:
- Nghiên cứu xây dựng nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với nội dung, yêu cầu của 
CMCN 4.0.
- Xây dựng chiến lược, chính sách quốc gia về CMCN 4.0; hoàn thiện hệ thống pháp luật về đào tạo nhân lực, thu hút nhân tài. Xây dựng cơ chế khuyến khích người tài và bảo vệ sự sáng tạo của tổ chức, cá nhân; khuyến khích thu hút nhà khoa học tài năng trên thế giới thông qua tiền lương, môi trường làm việc, môi trường sống, an sinh xã hội...
- Tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế nhằm thiết lập thể chế ở cấp khu vực và quốc tế về các vấn đề liên quan đến CMCN 4.0.
- Tăng cường đầu tư thích đáng cho khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học. Lựa chọn phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh chiến lược của quốc gia bám sát và tích hợp những công nghệ mới (sản phẩm mang thương hiệu make in VietNam). Tập trung phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, có chính sách để phát triển mạnh doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
- Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích doanh nghiệp lựa chọn, tiếp nhận những công nghệ tiên tiến của thế giới. Trong thời gian tới, để thực hiện CMCN 4.0, Việt Nam cần đầu tư phát triển mạnh hạ tầng công nghệ thông tin và hạ tầng thì quan trọng nhất là chuyển đổi hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT và làm chủ các công nghệ nền tảng của chuyển đổi số, như IoT, Big Data, AI. Rất nhiều công nghệ mới đang xuất hiện cho phép Việt Nam chuyển đổi nhanh chóng hạ tầng viễn thông thành hạ tầng ICT thế hệ mới. Đó không chỉ là việc mua công nghệ và thiết bị, mà còn là cơ hội cho Việt Nam làm chủ công nghệ và sản xuất thiết bị hạ tầng ICT.
- Rà soát lại các chiến lược, chương trình hành động, đề xuất xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của CMCN 4.0. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh.
- Nghiên cứu, đề xuất hướng hoàn thiện khung pháp lý đối với vấn đề quản lý tiền ảo, tài sản ảo, theo đó, cần rà soát toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam, như Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Quản lý thuế, Luật Phòng, chống rửa tiền... và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này về các vấn đề liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo để đánh giá một cách toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành; bên cạnh đó cần đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật, thực tiễn về việc sử dụng tài khoản viễn thông ở Việt Nam để nhận diện, đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật cho việc thanh toán cho các dịch vụ thanh toán nhỏ, giá trị thấp và thị trường nội dung số.
Với mong muốn, hy vọng về những nhận định, thông tin được gửi đến Quý độc giả sẽ có nhiều ý kiến phản hồi, góp ý kiến để hỗ trợ cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế lĩnh vực thông tin và truyền thông đáp ứng yêu cầu về cuộc cách mạng 4.0.

 

Ths. Hồ Hồng Hải